Lịch sử

Bàu Lát, Rẫy Cu, Giếng Bộng: những xứ đất cũ của Đà Nẵng

Trên bản đồ Tourane năm 1906 và 1908, bên ngoài mấy dãy phố vuông vắn của người Pháp là những cái tên nghe như lời tả cảnh: Bàu Lát, Rẫy Cu, Giếng Bộng [1]. Đó là các xứ, cách người địa phương gọi những vùng đất nơi họ ở, làm ruộng và chôn cất ông bà.

Vì sao các tên này còn lại

Khi Tourane thành nhượng địa cuối thế kỷ 19, người Pháp chỉ quy hoạch một khu trung tâm rộng chừng 2 km² dọc bờ tây sông Hàn. Phần còn lại gần như giữ nguyên: làng vẫn là làng, dân vẫn sống theo nếp cũ, và tên đất vẫn là tên cũ [1].

Sáu xứ

Xứ Đà Nẵng là nơi những cư dân người Việt đầu tiên từ phía bắc vào lập làng Hải Châu, nơi còn ngôi đình dựng năm 1806. Khi người Pháp xây đô thị, đây cũng là nơi các làng bị dời tới [1].

Bàu Lát, còn gọi Bầu Sen, vốn là đất làng Thạc Gián. “Bàu” là đầm lầy; đầm này từng mọc đầy cỏ lát, thứ cỏ dùng dệt chiếu. Về sau cỏ lát bị dọn đi để trồng sen, nên mới có tên thứ hai [1].

Rẫy Cu gồm các làng Bình Thuận, Hòa Thuận, Khuê Trung. Vùng này trước nhiều cây cao, bụi rậm; dân phát ra làm rẫy trồng đậu, trồng hạt, và chim cu kéo về làm tổ [1].

Giếng Bộng là đất làng Nại Hiên Tây, nơi có một cái giếng vuông lúc nào cũng đầy nước, trong và sạch [1].

Trèm Trẹm, hay Cồn Trạm, gồm thôn Thuận Phước và một phần Thạch Thang. Đây là chỗ hàng hóa của thương nhân nước ngoài lên xuống. Người Pháp về sau dựng kho ở đây, và nơi này thành điểm trung chuyển giữa Tourane với các vùng lân cận, nhất là Hội An [1].

Hà Thân, hay Bà Thân, là cả bờ đông sông Hàn, gồm các làng An Hải, Mỹ An, Nại Hiên Đông, Mân Thái, Phước Trường, Cổ Mân. “Hà” là sông; “Thân” là tên một người phụ nữ Chăm nổi tiếng, bà Thân, người đã bỏ công khai phá vùng đất này [1].

Điều còn chưa rõ

Các giải thích trên được bài nghiên cứu tổng hợp lại từ những sách đi trước; phần nhiều là cách hiểu dân gian về tên đất, không phải kết luận ngôn ngữ học. Bà Thân là ai, sống thời nào, bài nghiên cứu không nói thêm.

Ít người biết

  • Nhiều tên làng trong danh sách này còn sống trong tên đường, tên cầu, tên phường cũ: Thuận Phước, Thạc Gián, Khuê Trung, An Hải, Mân Thái [1].
  • Bờ đông sông Hàn từng mang tên một người phụ nữ Chăm [1].
  • Cầu ở cửa sông Hàn, cầu Thuận Phước, mang tên một thôn của xứ Trèm Trẹm.

Đọc tiếp

Về hai chữ Đà Nẵng, xem “Đà Nẵng” nghĩa là gì; về cái tên thời Pháp, xem Tourane; về thành phố người Pháp dựng giữa các xứ này, xem Tourane 1888–1918.

Nguồn tham khảo

  1. Đinh Nam Đức, Lưu Thiên Hương, “Hình ảnh của vùng đất Đà Nẵng cho đến những năm đầu thế kỷ 20 thông qua các tư liệu lịch sử”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ – Đại học Đà Nẵng, tập 22, số 1, 2024, từ tr. 23, https://jst-ud.vn/jst-ud/article/download/8820/6108/19383, truy cập 11/10/2026.