Ẩm thực

Bánh đúc xứ Quảng và bánh kador của người Chăm

Đền tháp gạch Champa ở Mỹ Sơn
Đền tháp gạch Champa ở Mỹ Sơn. Ảnh minh hoạ: Chainwit., CC BY 4.0, Wikimedia Commons.

Bánh đúc là món ăn quen thuộc hàng ngày ở thôn quê xứ Quảng, đồng thời cũng xuất hiện trong đời sống cúng tế của người Chăm dưới tên gọi kador [1]. Dù mang sắc thái sinh hoạt khác nhau, hai món bánh có sự gần gũi về kỹ thuật nấu từ bột gạo pha nước vôi trong [1]. Mối liên hệ lịch sử giữa hai món ăn này vẫn là câu hỏi gợi mở cho những người tìm hiểu văn hóa vùng đất [1].

Bánh kador trong đời sống tâm linh người Chăm

Theo ghi chép của tác giả Kiều Maily, một người Chăm từ vùng Panduranga (Ninh Thuận, Bình Thuận), bánh đúc trong tiếng Chăm gọi là “kador” [1]. Món bánh này được xem là món bánh quý từ xưa của người Chăm, gắn liền với các dịp họp mặt gia đình và dòng họ [1]. Khác với món ăn hàng ngày thông thường, người Chăm ít khi dùng bánh đúc trong đời sống thường nhật mà chủ yếu làm vào các dịp lễ cúng tế [1].

Mỗi khi nhà hoặc dòng họ có lễ cúng, các thành viên lại cùng nhau tụ họp để “đánh bánh đúc” (Wak Ahar), tạo không khí gắn kết cộng đồng [1]. Hoạt động làm bánh chung được lưu truyền qua nhiều đời, xem như một cách dạy con cháu giữ gìn tập tục của tổ tiên [1]. Món bánh kador thường xuất hiện trong các dịp lễ tôn giáo như lễ Karơh (lễ nhập đạo cho các bé gái) của người Chăm Bani ở Bình Thuận, hoặc các dịp lễ tạ ơn, tạ lỗi vào những ngày cuối mùa Ramưwan [1].

Phân loại và cách nấu bánh kador

Người Chăm chia bánh đúc thành hai loại: bánh đúc lạt (kador taba) và bánh đúc ngọt (kador yamưn) [1]. Trong quy trình chế biến, khâu lựa chọn loại gạo được xem là quan trọng nhất [1]. Gạo được xay thật mịn rồi hòa cùng nước vôi trong theo tỷ lệ vừa phải trước khi trút vào khạp đất nung hoặc thùng nhôm, gang [1].

Bột được đun trên bếp với lửa nhỏ và phải dùng đũa bếp đảo liên tục, đều tay để tránh vón cục hay bị khê, cháy [1]. Khi bọt khí li ti nổi lên, người nấu quậy nhuyễn để khối bột cô đặc từ từ [1]. Với loại bánh đúc ngọt (kador yamưn), người làm sẽ trộn thêm đường vào bột hoặc cho thêm nước lá dứa xay nhuyễn để tạo màu xanh trước khi nhắc xuống bếp [1].

Bột chín được trút ra nia đã lót sẵn lá chuối xanh để chờ nguội [1]. Khi bánh đông lại, người ta dùng dao cắt thành từng đường chéo hình thoi rồi bày ra đĩa [1]. Cách thưởng thức hai loại bánh có sự khác biệt: bánh đúc lạt có màu trắng được chan nước đường nấu chung với chút gừng, còn bánh đúc ngọt màu xanh lại ăn kèm với muối mè hoặc muối đậu phụng [1].

Bánh đúc ở chợ La Tháp và xứ Quảng

Tại xứ Quảng, bánh đúc lại là món ăn quen thuộc hàng ngày [1]. Trên đường đi về khu đền tháp Mỹ Sơn (xem Thánh địa Mỹ Sơn), tác giả bài viết ghé qua chợ La Tháp ở Duy Xuyên và bắt gặp món bánh đúc có màu đỏ đậm [1]. Theo người bán, bánh đúc truyền thống có màu gạo trắng, nay có thể biến tấu thành bánh màu bột gạo lứt [1].

Theo lời người thợ làm bánh tại La Tháp, kỹ thuật nấu bánh đúc ở xứ Quảng không khác nhiều so với cách làm của người Chăm [1]. Tuy vậy, bánh đúc xứ Quảng đều là loại bánh lạt, khi ăn được bổ sung hương vị đậm đà đặc trưng của ẩm thực địa phương [1]. Người bán rắc lên mặt bánh hành lá xắt nhỏ, đậu phụng giã dập và chan nước nhưn [1]. Nước nhưn ăn kèm thường nấu từ thịt băm hoặc tôm băm, được phi thơm bằng dầu phụng với củ nén rồi rim hơi khô [1].

Ngoài nước nhưn, nhiều nơi ở xứ Quảng còn ăn bánh đúc chấm với mắm xứ Quảng (mắm cái) đã pha chế gia vị [1]. Tùy theo khẩu vị, người ăn có thể dùng bánh đúc theo kiểu chay hoặc kiểu mặn [1]. Sự kết hợp giữa mùi gạo, dầu phụng khử nén và chén mắm ớt tạo nên nét riêng cho món ăn dân dã này [1].

Mối liên hệ ẩm thực để ngỏ

Dù có sự trùng hợp về thành phần bột gạo pha nước vôi trong và kỹ thuật khuấy trên bếp lửa, mối liên hệ cội nguồn giữa bánh đúc xứ Quảng và kador Chăm vẫn chưa được khẳng định chắc chắn [1]. Người dân địa phương khi được hỏi chỉ nhớ cách làm bánh đúc được các bà mẹ, bà cố truyền lại qua nhiều thế hệ mà không rõ nguồn gốc từ đâu [1]. Bài viết trên Báo Quảng Nam chỉ dừng lại ở việc nêu câu hỏi và ghi nhận sự tương đồng giữa hai món ăn, tác giả gọi đó là sự giao thoa [1].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Nguồn gốc phát sinh và mối liên hệ qua lại giữa bánh đúc của người Việt ở xứ Quảng và bánh kador của người Chăm; bài viết gốc chỉ nêu giả thuyết tương đồng mà không khẳng định nguồn gốc [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Thời điểm xuất hiện ban đầu của bánh kador trong nghi lễ Chăm xưa; tư liệu chỉ ghi chép theo ký ức truyền khẩu [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Tên gọi đơn vị hành chính cấp xã mới của khu vực chợ La Tháp theo địa giới sau tháng 7/2025; nguồn chỉ ghi chợ La Tháp tại Duy Xuyên [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Quảng Nam, “Chuyện bánh đúc Chăm ở xứ Quảng”, 24/10/2021, https://baodanang.vn/chuyen-banh-duc-cham-o-xu-quang-3027166.html, truy cập 24/10/2026.