Văn hoá

Cát lái ghe bầu làng Nguyễn Chỉ

Vào giữa thế kỷ 20, những chiếc ghe bầu trọng tải lớn xuôi ngược dọc bờ biển miền Trung gắn liền với tay lái của các cát lái làng Nguyễn Chỉ bên cửa biển An Hòa [1]. Không có máy móc hỗ trợ, họ thuộc làu hàng trăm câu vè dân gian để ghi nhớ từng bãi ngầm, ngọn núi và luồng lạch hiểm trở trên biển [1].

Cửa biển An Hòa và những chuyến mở biển đầu năm

Làng Nguyễn Chỉ nằm ở bờ bắc dẫn ra cửa biển An Hòa, vào năm 1950 là một làng quê nửa nông nửa biển [1]. Nơi này trước tháng 7/2025 thuộc xã Tam Giang, huyện Núi Thành, nay thuộc xã Núi Thành, gần khu vực rừng ngập mặn vũng An Hòa [1]. Theo lời kể trong bài báo, những người lớn tuổi chỉ còn nhớ tên vài người từng cầm lái ghe bầu ở làng thời đó là ông Huỳnh Phàn, Lương Văn Xiêm và Lương Văn Ngao (sinh năm 1921) [1].

Vào dịp đầu năm, ông Lương Văn Ngao cùng thợ thuyền thường chuẩn bị mở biển đi buôn [1]. Dân chài hay nương theo “gió đất” – gió từ đất liền thổi ra biển bắt đầu từ 4 giờ sáng – để ghe bầu xuất bến thuận lợi [1]. Theo bài báo, ông Hoàng Lụa (Lê Hoàng) hay ngồi nghe các ông lái kể chuyện để lưu lại những câu hò vè dễ nhớ, trong đó có câu tả cảnh sửa soạn từ chiều hôm trước, mang theo gạo nước rồi sáng sớm giương buồm nương gió bờ mà chạy ra khơi [1]. Giới cát lái thời đó được coi là có của ăn của để, nhưng trong hoàn cảnh khó khăn chung thì mức sống đó cũng eo hẹp; có gia đình lúc người lái thuyền ra đi thì vợ con ở nhà chỉ ăn củ qua ngày [1].

Ở các cửa biển tiếp nhận hàng hóa như Faifo (phố cổ Hội An), Tourane (Tourane), Sa Huỳnh hay Thuận An, mỗi khi ghe bầu chở trăm tấn hàng xuất bến, dân làng phải huy động cả xóm ra để “hích” [1]. Người ta buộc dây trước mũi thuyền, vòng qua các con quay và cột tre ven bờ rồi cùng “hò dô” để di chuyển ghe [1]. Khi thuyền có đà thì tiếng hô to hơn để trên ghe chèo, buồm ưng và buồm lòng bật ra [1]. Riêng khi ghe rời cửa An Hòa để xuôi vào Quảng Ngãi chở muối thì không cần huy động nhiều người như vậy vì thuyền có khi rỗng bụng trong ngày khởi hành [1].

Cung đường chở muối và hàng hóa dọc miền Trung

Theo tác giả Lê Văn Chương, những chiếc ghe bầu xuôi ngược từ Quảng Nam vào Quảng Ngãi để chở muối ra Đà Nẵng, sau đó chở lu, thạp, hành từ Huế vào Quảng Ngãi, có lúc vào tận Đồng bằng sông Cửu Long [1]. Con thuyền thường đi qua những khu vực nguy hiểm như mũi Ba Làng An, mũi Dinh hay vùng Đá Vách [1].

Ghe bầu của ông Lương Văn Ngao thường đi về cửa biển Sa Huỳnh nằm cuối tỉnh Lê Trung Đình (sau này là Quảng Ngãi) để lấy muối tại vựa Tân Diêm – nơi có sản lượng chỉ đứng sau vựa muối Đề Gi của Bình Định [1]. Mỗi khi vào cửa Sa Huỳnh, các ông lái đều dừng ở bờ đông cửa biển, vào dinh bà Thánh Ngọc Thiên Y A Na ngay chân núi để trình báo và dâng lễ vật tạ ơn vì đã phò trợ chuyến đi [1]. Tùy điều kiện kinh tế mà lễ vật khác nhau; nhiều người thể hiện lòng thành bằng cách quàng vào cổ tượng bà một sợi dây chuyền vàng để trả lễ [1]. Theo bài báo, miếu bà được người dân kính cẩn phụng thờ, không ai dám xâm phạm lễ vật [1].

Ông Lương Văn Chi (sinh năm 1945), một trong 10 người con của ông Ngao, kể lại rằng cha mình từng ra Huế chở chum ché cao cấp và sản vật đất kinh thành đi cung cấp cho các vùng miền dọc biển [1]. Ghe cũng ghé các cửa biển chở sản vật địa phương như củ sắn ở cửa Mỹ Á hay đường mía, bánh kẹo tại làng Thu Xà thuộc Quảng Ngãi [1]. Sau năm 1945, Quảng Ngãi là vùng tự do nên việc đi buôn đến vùng này gặp nhiều trở ngại với nhà cầm quyền Pháp [1]. Cuối đời, ông Ngao sống lận đận vì bị lực lượng Pháp liên tục dò xét và bắt giam do từng tiếp tế cho Việt Minh [1].

Bài vè hải trình 150 câu của giới cát lái

Do con thuyền phải đối mặt với nhiều bãi ngầm và đá ngầm, giới cát lái thời trước phải thuộc lòng bài vè hải trình dài khoảng 150 câu mô tả địa danh và các điểm cảnh báo để tránh mắc cạn [1]. Bài vè mở đầu bằng các câu: “Kể từ Cát Lái đi buôn/ Anh em ngồi buồn gác bút ngân nga” [1]. Vào dịp Tết hay ngày lễ, bài vè đi biển từng là tiết mục quen thuộc trên sân khấu dân gian ở các làng ven biển [1].

Khi ghe bầu tới cửa Hàn ở Đà Nẵng, người cầm lái nhắc câu vè: “Cửa Hàn còn ở trong xa/ Trước mũi Sơn Trà lại có con nghê” [1]. Lúc đi qua cửa An Hòa, bài vè gióng lên câu: “Ôm ấp Hà Bứa có rạng trời sinh/ Bàn Than cửa sễ mà xuống kinh An Hòa…” [1]. Đến điểm giáp ranh Quảng Ngãi ở khu vực Dung Quất, câu định hướng là: “Thái Cần, Châu Ổ bao xa/ Phía trong cây quýt mà ngoài đà tổng binh” [1].

Khi ghe bầu hoàn thành sứ mệnh và ngư dân chuyển sang dùng thuyền máy, bài vè cổ vẫn hỗ trợ người đi biển trong tình huống nguy hiểm [1]. Năm 1999, ông Lương Văn Tiền ở Tam Giang cầm lái thuyền chở ngư dân đi đánh cá và gặp bão dữ dội [1]. Khi chạy ngang khu vực đèo Hải Vân, thuyền trưởng định cho tàu tạt vào một eo biển trông xa thấy êm sóng để nấp [1]. Ngư dân trên thuyền kịp nhớ ra hai câu vè: “Chỗ này Bãi Chuối, Hang Dơi/ Xưa nay cửa bể là nơi gió lò” [1]. Nhờ cảnh báo về vùng “gió lò” nguy hiểm, thuyền trưởng cho thuyền đi chệch ra hướng đảo Lý Sơn để cầm cự với bão và cả đoàn thoát nạn trở về [1].

Theo bài báo, bài vè 150 câu nay chỉ còn vài người nhớ từng đoạn: ông Lương Văn Chi ở Tam Giang cũ và ông Trần Đình Chơi (ở quận Thanh Khê, theo bài báo năm 2021) thuộc khoảng 20 câu, còn cụ Nguyễn Đình Huân ở Cửa Lỡ (Mộ Đức, Quảng Ngãi) thuộc nhiều câu hơn [1].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Toàn văn bài vè hải trình 150 câu của giới cát lái ghe bầu hiện chưa được sưu tầm đầy đủ trong bài viết [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Năm mất của ông Lương Văn Ngao; bài báo năm 2021 chỉ ghi năm sinh (1921) và các sự kiện cuối đời [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Tình trạng hiện nay của miếu bà Thánh Ngọc Thiên Y A Na và vựa muối Tân Diêm ở cửa Sa Huỳnh [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Quảng Nam, “Cát Lái ghe bầu”, 09/05/2021, https://baodanang.vn/cat-lai-ghe-bau-3027224.html, truy cập 24/10/2026.