Với vị trí cửa ngõ đường biển quốc tế, đất Quảng sớm đón những chuyến hải thuyền và giáo sĩ phương Tây từ thế kỷ 16 [1]. Dấu chân người phương Tây tại đây bắt đầu từ các thương nhân Bồ Đào Nha, Hà Lan, tiếp nối bởi các giáo sĩ dòng Tên và sau đó là những phái đoàn ngoại giao [1].
Những dấu chân thương nhân đầu tiên
Năm 1471, vua Lê Thánh Tông khi dừng chân ở đất Quảng từng miêu tả cảnh tượng tàu buôn quốc tế tấp nập qua câu thơ “Ngũ cổ phong thanh Lộ Hạc thuyền”, song đó là thuyền buôn trong khu vực châu Á [1]. Đến thế kỷ 16, các đoàn hải thuyền phương Tây bắt đầu cập bến đất Quảng sau khi người Bồ Đào Nha đến Trung Quốc năm 1514 và Philippines năm 1521 [1].
Năm 1523, Duarte Coelho (người Bồ Đào Nha) đến Đại Việt để điều đình thông thương nhưng bất thành do tình hình rối loạn thời Mạc Đăng Dung [1]. Năm 1524, ông đi xuống phía nam dừng chân ở đất Quảng và tạc một hình thánh giá lớn trên núi đá tại Cù Lao Chàm, có ghi niên hiệu và danh tính trước khi rời đi [1]. Theo bài báo, sự kiện Duarte Coelho đến đất Quảng sớm hơn 10 năm so với nhân vật I-nê-khu (Thừa sai Ignatio đến miền Bắc năm 1533 ghi trong Khâm định Việt sử thông giám cương mục) [1].
Năm 1535, Antonio da Faria, thuyền trưởng tàu Albuquerque của Bồ Đào Nha, neo tàu ở vùng cửa biển Đà Nẵng vài ngày rồi vào thăm Hội An [1]. Ông nhận định vị thế Đà Nẵng bấy giờ không sánh được với Hội An và coi nơi đây là một trung tâm mậu dịch hàng hải quan trọng [1]. Dù vậy, người Bồ Đào Nha không lập thương điếm cố định mà chỉ buôn bán theo mùa gió mậu dịch [1]. Người Anh cũng lui tới đất Quảng từ năm 1613 nhưng không lập cơ sở thương mại [1]. Riêng Công ty Đông Ấn Hà Lan đã thành lập thương điếm tại thương cảng Hội An vào đầu năm 1636 và duy trì hoạt động đến năm 1759 [1].
Theo thông tin của Hội Những người bạn Cố đô Huế (BAVH) dẫn lại trong bài báo, vào tháng 2/1645, có 4 nữ tu sĩ dòng Francisco đi tàu Tây Ban Nha từ Ma Cao sang Philippines gặp bão phải ghé cảng Chàm [1]. Bài báo nêu đây là những phụ nữ châu Âu đầu tiên đến đất Quảng nói riêng và Việt Nam nói chung [1].
Các giáo sĩ phương Tây và chữ Quốc ngữ
Kế tiếp thương nhân, thế kỷ 17 ghi nhận sự xuất hiện của các giáo sĩ Công giáo phương Tây đến truyền đạo tại Đàng Trong [1]. Năm 1615, linh mục Francesco Buzomi (người Ý) bắt đầu hoạt động truyền giáo [1]. Năm 1617, giáo sĩ Francisco de Pina (người Bồ Đào Nha) đến Đàng Trong [1]. Giai đoạn khoảng 1618 – 1622 có giáo sĩ Cristoforo Borri (người Ý) thuộc Dòng Tên truyền giáo tại đây [1].
Đặc biệt, giáo sĩ Alexandre de Rhodes đến Đàng Trong truyền đạo trong thời gian dài và là người Pháp đầu tiên đến đất Quảng [1]. Giai đoạn này đặt nền móng cho chữ Quốc ngữ khi Francisco de Pina có công sáng tạo chữ Quốc ngữ thời kỳ đầu và biên soạn từ điển Việt – Bồ [1]. Dựa trên nền tảng đó, Alexandre de Rhodes phát triển và ấn hành cuốn từ điển Việt – Bồ – Latinh vào năm 1651 [1].
Bên cạnh tôn giáo, các giáo sĩ để lại nhiều tư liệu ghi chép giá trị [1]. Cristoforo Borri viết sách về Đàng Trong phản ánh phong tục, hành chính và địa lý [1]. Nhật ký của Alexandre de Rhodes tả một buổi tiếp đãi: lính hai đại đội cận vua mặc áo dài nhung màu tím, cầm đại đao chuôi bạc; tiệc trà bày trên mâm tròn sơn thếp vàng; trong buổi tiểu yến có các đoàn vũ nữ múa [1]. Ghi chép của Bougainville năm 1825 thì tả phẩm phục các quan làm bằng xa-tanh thêu chỉ vàng, theo ông “có vẻ kỳ cục hơn là sang trọng” [1]. Ngoài ra, tên gọi Cochinchina gắn với hải cảng Hội An dùng chỉ Việt Nam thế kỷ 16 hoặc Đàng Trong thế kỷ 17 (không phải Nam Kỳ thời Pháp thuộc) do người Bồ Đào Nha đặt [1].
Quan hệ bang giao thời nhà Nguyễn
Từ thế kỷ 18 và nửa đầu thế kỷ 19, các cường quốc phương Tây nhiều lần cử tàu thuyền đến cửa biển Đà Nẵng để xin bang giao và thông thương [1]. Các vua triều Nguyễn đều từ chối [1].
Năm 1803 (năm Gia Long thứ 2), nước Anh cử sứ thần mang quốc thư sang xin lập phố buôn bán tại Trà Sơn [1]. Vua Gia Long từ chối với lý do cửa biển Đà Nẵng là vị trí cương giới lãnh hải trọng yếu, không thể cho ngoại bang cư trú [1]. Đến năm 1824, vua Pháp sai sứ mang quốc thư và phẩm vật xin giao hiếu, vua Minh Mạng cũng mềm mỏng cự tuyệt [1]. Vua Thiệu Trị tiếp tục đường lối không bang giao với các nước phương Tây [1]. Từ năm 1847 trở đi, cửa biển Đà Nẵng chuyển sang giai đoạn phải hứng chịu súng đạn tấn công của liên quân phương Tây [1].
Tra cứu liên quan
- Địa danh biển đảo: Cù Lao Chàm, cửa Hàn
- Đô thị thương cảng: thương cảng Faifo
- Giáo sĩ thế kỷ 17: Francisco de Pina, Alexandre de Rhodes
Điều còn chưa rõ
- Vị trí dấu tích hình thánh giá đá do Duarte Coelho khắc trên đảo Cù Lao Chàm hiện còn tồn tại hay đã thất lạc [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Danh tính cụ thể của 4 nữ tu dòng Francisco ghé vào cảng Chàm năm 1645 theo tài liệu của BAVH [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Vị trí cụ thể của khu vực Trà Sơn nơi phái đoàn ngoại giao Anh xin lập phố buôn bán năm 1803 [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Quảng Nam, “Về dấu mốc người Tây tìm đến đất Quảng”, 10/09/2023, https://baodanang.vn/ve-dau-moc-nguoi-tay-tim-den-dat-quang-3044609.html, truy cập 24/10/2026.