Địa danh

Làng Phong Lệ

Làng Phong Lệ trước đây mang tên Đà Ly, là một làng cổ nằm dọc đôi bờ sông Cầu Đỏ và kéo dài đến tận chân núi Bà Nà [1]. Dù không còn là đơn vị hành chính chính thức, Phong Lệ vẫn còn nhiều di tích, và là quê của Ông Ích Khiêm [1]. Ngày nay, địa bàn làng xưa phân bố trên địa giới của phường Hòa Xuân, phường Cẩm Lệ và xã Hòa Vang [1].

Tên gọi và địa giới qua các thời kỳ

Theo bài báo năm 2011, làng Phong Lệ trước đây có tên gọi là Đà Ly [1]. Lời các bậc cao niên trong làng truyền lại rằng tên gọi Phong Lệ bắt đầu xuất hiện từ thời danh tướng Ông Ích Khiêm [1]. Dù hiện tại không còn là tên gọi hành chính độc lập, Phong Lệ vẫn được nhắc đến như một làng cổ trong lòng thành phố [1].

Địa phận làng Phong Lệ xưa bao trùm hầu hết đất xã Hòa Châu (trước 7/2025: huyện Hòa Vang), nay thuộc phường Hòa Xuân, cùng một phần lớn hai phường Hòa Thọ Đông, Hòa Thọ Tây (trước 7/2025: quận Cẩm Lệ), nay thuộc phường Cẩm Lệ [1]. Phần đất nằm ở xã Hòa Châu cũ quen gọi là làng Phong Nam, hay Phong Lệ Nam [1]; xem thêm làng cổ Phong Nam. Phần đất thuộc Hòa Thọ Đông và Hòa Thọ Tây cũ được gọi là Phong Lệ Bắc, nói tắt là Phong Bắc [1]. Ngoài ra, hai chữ Phong Lệ xưa kia còn dùng để chỉ vùng đất gần chân núi Bà Nà thuộc xã Hòa Phú (trước 7/2025: huyện Hòa Vang), nay thuộc xã Hòa Vang, hay còn gọi là Phong Tây [1]. Đến nay, các dấu tích của làng Phong Lệ vẫn rải rác trên cả ba khu vực này [1].

Dấu tích chia cắt đôi bờ sông Cầu Đỏ

Theo lời kể của những người cao tuổi trong làng, cách đây hơn 100 năm thì con sông Cầu Đỏ chỉ là một con lạch nhỏ [1][2]. Vào mùa khô cạn, người dân có thể lội bộ qua lại và làng khi ấy là một dải đất liền lạc, con lạch chưa hề là ranh giới chia cắt dân làng [1][2].

Sự phân tách bắt đầu rõ nét từ khoảng năm 1930 khi người ta mở tuyến đường sắt chạy ngang qua làng [1]. Vài thập niên tiếp sau, tuyến quốc lộ được xây dựng khiến Phong Lệ hình thành cảm giác bị chia cắt thành hai bờ Nam và Bắc [1]. Về sau, khi dòng sông Cầu Đỏ chính thức được chọn làm ranh giới hành chính phân chia giữa các xã, vùng đất phía nam sông thuộc về xã Hòa Châu, còn vùng phía bắc sông thuộc về xã Hòa Thọ (sau này là phường Hòa Thọ Đông) [2]. Dân làng gọi phần phía nam là Phong Lệ Nam và phía bắc là Phong Lệ Bắc, dần dà rút gọn thành tên gọi Phong Nam và Phong Bắc [2].

Dù bị ngăn cách bởi dòng sông và thuộc hai đơn vị hành chính khác nhau, người dân Phong Lệ Nam và Phong Lệ Bắc vẫn duy trì các mối sinh hoạt chung [1][2]. Ông Lê Văn Tục nói đùa rằng Phong Bắc, Phong Nam “cách mặt nhưng không cách lòng” [2].

Các thiết chế văn hóa và lăng mộ Ông Ích Khiêm

Tại Phong Lệ xưa hình thành đầy đủ các thiết chế tín ngưỡng cộng đồng gồm đình, chùa, miếu, nhà thờ tiền hiền của làng và nhà thờ các dòng họ [1]. Hiện nay tại Phong Nam vẫn còn bảo tồn được một nhà thờ tiền hiền và một ngôi đình Thần Nông [1]. Ở các di tích này còn lưu giữ nhiều bài vị thờ tiền hiền cùng những bức câu đối cổ tương truyền do Cao Bá Quát và Phan Bội Châu đề tặng cho làng [1]. Người dân trong làng còn truyền tụng nhiều câu chuyện và giai thoại về tên đất, tên làng, tài thao lược của Ông Ích Khiêm cùng những chuyến ghé thăm của các danh sĩ [1]. Tại khu vực Phong Tây hiện vẫn còn lưu giữ mộ phần các thế hệ tổ tiên của dòng họ Ông Ích Khiêm [1].

Ở bờ bắc thuộc Phong Bắc, theo ý kiến của ông Võ Văn Thắng (Giám đốc Bảo tàng Điêu khắc Chăm) nêu ra vào năm 2011, trên một dải đất hẹp hiện lưu dấu tập trung nhiều tầng văn hóa [1]. Ông dẫn chứng việc phát lộ quần thể đền tháp Chăm rộng lớn, có thể có niên đại đến 1.000 năm, nay là di tích Chăm Phong Lệ [1]. Nằm liền kề khu vực khai quật khảo cổ là các công trình tín ngưỡng dân gian được xây dựng từ hơn một thế kỷ trước như Dinh Bà và miếu Âm linh thờ phụng những vong hồn vô danh [1].

Cũng tại Phong Bắc, nằm dưới bóng mát của những gốc vải gần 100 năm tuổi là khu nhà thờ và lăng mộ của danh nhân Ông Ích Khiêm [1]. Khu di tích này đã được tôn tạo với khuôn viên có la thành, cổng ngõ, tiền đường và nhà bia [1]. Nấm mộ danh nhân có dạng hình khối chữ nhật với chiều dài 4,75 m, chiều rộng 3,5 m và chiều cao 0,35 m, mép bờ bao được viền quanh bằng một đường sành sứ [1]. Trong lăng mộ có đôi câu đối, bài báo chép bản dịch, nói về công lao với nước và lòng trung của ông [1].

Lễ hội Mục Đồng và nghi lễ mùa màng

Cư dân làng Phong Lệ đã gìn giữ lễ hội Mục Đồng, vốn là ngày hội dành riêng cho giới trẻ chăn trâu gắn liền với nền văn minh lúa nước [1][2]. Lễ hội ban đầu xuất phát từ ước vọng cầu mưa thuận gió hòa và mong ước mùa màng bội thu, về sau được dân làng mở rộng thêm ý nghĩa cầu cho quốc thái dân an và tri ân các bậc tiền bối đã có công khai phá lập làng [1][2].

Theo ông Lê Văn Tục (71 tuổi vào năm 2020, Trưởng ban tế lễ làng Phong Lệ tại thôn Phong Nam), các nghi lễ văn hóa và tín ngưỡng của làng tập trung vào truyền thống “xuân kỳ thu tế” [2]. Mỗi năm, làng tổ chức hai ngày lễ tế chính thức vào mùa xuân và mùa thu tại đình làng hoặc nhà thờ các tộc họ để dân làng họp mặt [2]. Đây cũng là thời điểm con cháu ở khắp nơi quay về tụ họp, cùng đóng góp kinh phí xây mới hoặc tu sửa từ đường, sao chép dịch thuật gia phả, kết nối các chi phái dòng họ và chăm sóc mồ mả tổ tiên [2].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Thời điểm cụ thể làng đổi tên từ Đà Ly thành Phong Lệ; nguồn chỉ ghi theo truyền ngôn của các bô lão là có từ thời Ông Ích Khiêm [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Căn cứ văn bản xác thực tác quyền các câu đối tại đình Thần Nông và nhà thờ tiền hiền làng; bài báo chỉ ghi nhận là tương truyền của Cao Bá Quát và Phan Bội Châu [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Năm khởi dựng và niên biểu trùng tu chi tiết của các công trình Dinh Bà, miếu Âm linh tại Phong Bắc; nguồn báo chỉ nêu xây dựng cách đây hơn một thế kỷ tính đến năm 2011 [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Ranh giới địa lý cụ thể của khu vực Phong Tây gần chân núi Bà Nà tại xã Hòa Phú cũ [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Đà Nẵng, “Dấu xưa Phong Lệ”, 20/06/2011, https://baodanang.vn/dau-xua-phong-le-3227419.html, truy cập 24/10/2026.
  2. Báo Đà Nẵng, “Chuyện làng…”, 20/09/2020, https://baodanang.vn/chuyen-lang-3232874.html, truy cập 24/10/2026.