Văn hoá

Gia phả xứ Quảng

“Nước có quốc sử, nhà có gia phả” là câu văn thường gặp trong lời tựa của nhiều bản gia phả dòng họ tại xứ Quảng [1]. Được coi như cuốn “sử nhà”, gia phả gìn giữ thông tin về cội nguồn tổ tiên từ đất Bắc, quá trình tụ cư lập làng và bổ sung nhiều cứ liệu cho chính sử [1].

“Sử nhà” và lệ làng về cội nguồn

Lời tựa trong nhiều bản gia phả xứ Quảng thường nhấn mạnh quan hệ giữa sử nước và sử nhà [1]. Nhờ ghi chép cội nguồn từ đất Bắc, con cháu các đời sau có thể tìm về tổ tông, đồng thời lấy tư liệu dòng họ để bổ cứu những chi tiết lịch sử địa phương [1].

Tại thôn An Lâm (Đông An, Duy Xuyên), di sản Hán Nôm từ năm 1857 ghi nhận công lao khai lập làng xã với việc “từ miền Bắc, Tổ bắt đầu lập ấp quy dân” [1]. Lệ làng ở đây quy định người nào không tuân theo phong tục, bỏ bê nguồn cội có thể bị đuổi và không được tham dự việc làng nhằm nhắc nhở “người sinh có tổ phải luôn ghi lòng” [1]. Thôn vinh danh thủy tổ họ Trương, tiếp theo là các họ Nguyễn, Đoàn, Trần, Lê và Hồ [1].

Thôn An Lâm cũng định ra quy định về kỵ chạp, yêu cầu người dân phải khai báo tên tuổi tổ phụ từ 5 đời trở lên để làm hương phả nhằm lưu giữ công đức của các thế hệ trước [1].

Ghi chép về lập làng và ruộng đất

Bản gia phả Lê tộc trường biên soạn năm 1775 tại thôn Giảng Hòa, Phú Mỹ, Thăng Hoa cung cấp nhiều thông tin về lịch sử cư dân [1]. Tài liệu ghi Thủy tổ Lê Văn Trạch vốn ở huyện Nghi Xuân (nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh), có con trai theo quan Tham tụng đến vùng đất mới khai phá, lập ra thôn Giảng Hòa vào thời Vĩnh Trị [1].

Người con trưởng là Lê Văn Thái ở lại trông nom đồng ruộng, còn con thứ là Văn Huyền vượt sông sang phía tây huyện Duy Xuyên, cùng tiên tổ các họ Uông, Hồ, Nguyễn, Phan biến vùng rừng rậm thành ruộng cấy, dựng nên xã Trung Lộc [1]. Kèm theo văn bản là bảng kê truyền thế để con cháu nắm rõ thứ bậc trong gia tộc [1].

Văn bản năm 1785 dưới thời Thái Đức cho biết ông nội bác của một người tên Văn Luân từng khai khẩn và để lại 2 mẫu 7 sào đất trồng dâu [1].

Đến thời vua Minh Mạng, xã trưởng Lê Văn Học lập văn bản công nhận bậc Hậu hiền cho tiền nhân họ Hoàng [1]. Năm 1829, làng lập Giấy lập Hậu hiền, nêu việc “Ăn quả phải nhớ ơn khó nhọc của người trồng cây” và “Uống nước chớ nên quên công sức người đào giếng” [1]. Giấy ghi rõ các vị họ Hoàng sau thời loạn lạc đã lập lại sổ bạ thôn, dựng miếu thờ và dành được 12 mẫu đất trồng dâu làm công điền cho làng, nên được tôn làm Hậu hiền thờ trong miếu và xướng tên trong các tuần tế [1].

Hành trạng nhân vật qua gia phả họ Phạm

Gia phả dòng họ còn là nguồn ghi chép chi tiết hành trạng quan lại và người đỗ đạt, như trường hợp dòng họ của Tiến sĩ Phạm Tuấn ở thôn Xuân Đài, Phú Khương Thượng [1].

Thân sinh của ông là Phạm Bá Phủ (húy Văn Vận, tự Đại Hanh, thuộc phái nhì đời 11, sinh năm Đinh Hợi 1827, mất năm Ất Hợi 1875), đỗ Tú tài ân khoa Mậu Thân năm 1848, mộ tại xứ Nguyệt Đài Hạ [1]. Vợ của ông là bà họ Trần Thị (húy Hiểu, hiệu Minh Cơ), sinh được 6 con trai và 3 con gái; người con trai thứ ba là Phạm Văn Luân (sau đổi là Trọng Tuấn, sinh năm Nhâm Tý 1852) [1].

Phạm Tuấn (húy Tuấn, tự Hỷ Thần, đời thứ 12) đỗ Tú tài năm Mậu Dần 1878, đỗ Cử nhân năm Kỷ Mão 1879 [1]. Đầu năm 1884, ông làm Thủ Tá việc ở phủ Điện Bàn, sau đó bị giáng hai cấp rồi bổ sang Hàn Lâm viện Cung phụng theo tỉnh đường điều động [1]. Khoa thi Hội năm Kỷ Sửu 1889, ông thiếu điểm nên được bổ chức Huấn đạo huyện Quế Sơn [1].

Năm 1890, ông nhận quyền Tri huyện tại huyện Hà Đông rồi thăng làm Huấn đạo [1]. Năm 1891, ông làm Sơ khảo kỳ thi hương Bình Định [1]. Năm 1892, ông làm Giáo thọ [1]. Năm 1893, ông làm Phúc khảo trường Bình Định [1].

Tại khoa thi Hội năm Mậu Tuất 1898, ông trúng cách và dự thi Điện, đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân đệ ngũ danh ở tuổi 45 (trong nhóm Ngũ phụng tề phi), rồi vào Quốc học học tiếng Pháp [1]. Sau đó ông lần lượt giữ chức Thừa biện bộ Lễ, Thừa chỉ, Thị giảng Học sĩ năm 1901, rồi làm Án sát năm 1902 nhờ Tổng đốc Tôn Thất tiến cử [1]. Năm 1908, ông được bổ chức Đốc học tỉnh Hà Tĩnh, thụ hàm Quang lộc Thiếu khanh [1]. Năm 1913, ông xin nghỉ hưu và được thăng hàm Hồng lô Tự khanh [1].

Gìn giữ gia phả trong đời sống dòng tộc

Gia phả đóng vai trò giềng mối nối kết các thế hệ trong dòng tộc, nhắc nhở con cháu về cội nguồn di cư từ các tỉnh phía bắc vào xứ Quảng [1]. Nhiều dòng tộc duy trì nền nếp chăm sóc nhà thờ họ, thực hiện lễ nghi kỵ chạp và tổ chức các chuyến hành hương về quê tổ ở miền ngoài, phổ biến từ vùng Thanh Hóa, Nghệ An [1].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Vị trí cụ thể của các địa danh thôn Giảng Hòa (Phú Mỹ, Thăng Hoa) và thôn Xuân Đài (Phú Khương Thượng) theo đơn vị hành chính hiện nay chưa có đối chiếu chính thức trong nguồn [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Tên tài liệu lưu trữ cụ thể của Phân viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tại Huế (VICAS Huế) được bài báo trích dẫn về hoạn lộ Phạm Tuấn chưa được ghi rõ [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Niên đại lập bản gia phả gốc của thôn An Lâm chưa được xác định; bài báo chỉ dẫn mốc văn bản từ năm 1857 [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Quảng Nam, ““Sử nhà” xứ Quảng”, 03/01/2023, https://baodanang.vn/su-nha-xu-quang-3026779.html, truy cập 23/10/2026.