Trong lịch sử các làng nghề thủ công truyền thống ở xứ Quảng, người phụ nữ từng nắm giữ vị trí then chốt, thậm chí giữ vai trò thợ cả ở một số nghề [1]. Theo tác giả, xã hội “nam quyền” dần phai nhạt khi lưu dân vào vùng đất mới [1]. Bài viết của tác giả Phùng Tấn Đông trên báo chí địa phương đã phác họa lại dấu ấn lao động của phụ nữ qua nhiều ngành nghề thủ công ven các dòng sông [1].
Vị thế người phụ nữ trong dòng lưu dân và tơ lụa hạ du
Theo tác giả Phùng Tấn Đông, khi các đoàn lưu dân từ vùng Thanh Nghệ đặt chân vào vùng đất mới Quảng Nam xưa, tính chất nam quyền trong xã hội dần phai nhạt theo bước chân Nam tiến [1].
Vào đầu thế kỷ 17, các chúa Nguyễn thiết lập Dinh Chiêm và thực thi chính sách cởi mở về thương nghiệp với các thương nhân nước ngoài tại thương cảng Hội An (như thương nhân người Hoa, người Nhật và các nước châu Âu gồm Anh, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp), thúc đẩy nghề tơ lụa phát triển mạnh ở Đàng Trong [1]. Các làng nghề ươm tơ, dệt lụa nhanh chóng hình thành dọc vùng hạ lưu sông Vu Gia và sông Thu Bồn, trải dài qua các địa bàn Duy Xuyên, Đại Lộc và Điện Bàn [1].
Theo tác giả, ở các làng tằm tơ, phụ nữ có vai trò chủ chốt: họ trồng dâu, hái dâu, nuôi tằm và đảm trách cả việc canh cửi (dệt cửi) trong nghề dâu tằm [1]. Dân gian xưa từng đúc kết nếp cần cù này qua câu ca [1]:
“Em là con gái Quảng Nam Nông tang, canh cửi chăm làm chăm lo”
Quán xuyến nghề biển, làm gốm và các nghề thủ công mỹ nghệ
Bên cạnh nghề nông tang, người phụ nữ xứ Quảng còn tham gia sâu vào các nghề chế biến thủy hải sản và sản xuất thủ công nghiệp [1]. Theo nguồn bài báo, khi di cư vào vùng này, người Việt tiếp thu nghề đánh bắt và nghề ủ mắm cá biển tương truyền từ người Chăm [1]. Dọc hai bờ bắc và nam vùng biển Cửa Đại, các cơ sở sản xuất mắm hình thành ở Cửa Khe (Thăng Bình), Trung Phường (Duy Xuyên), Thanh Châu hay Gành (Hội An) [1]. Để mắm không bị hỏng và đạt độ thơm ngon đòi hỏi tay nghề khéo léo của người phụ nữ, và sau khi ủ mắm xong, họ cũng chính là người gánh lu hũ đi phân phối khắp các thôn xóm [1].
Đối với nghề dệt chiếu ở Bàn Thạch, Yến Nê, Triêm Tây hay nghề chằm nón lá và làm lồng đèn tại phố cổ Hội An, phụ nữ luôn quán xuyến các công đoạn quan trọng [1]. Tại làng gốm Thanh Hà, sự phân công lao động diễn ra rõ nét: nam giới phụ trách việc xử lý đất nguyên liệu, còn phụ nữ trực tiếp tham gia chế tác sản phẩm trên bàn chuốt (một người đẩy bàn chuốt kết hợp nặn con đất, một người ngồi bàn chuốt định hình dáng đồ gốm) rồi gánh hàng đi tiêu thụ [1].
Ở những nghề nặng nhọc vốn do nam giới chiếm đa số như đúc đồng Phước Kiều, làm trống, hay tại làng mộc Kim Bồng và Vân Hà, người phụ nữ vẫn góp mặt ở khâu làm nguội, đánh bóng và sơn phết hoàn thiện sản phẩm [1]. Ngoài ra, phụ nữ xứ Quảng cũng quán xuyến chế biến ẩm thực bản địa như làm mì Quảng và cao lầu [1].
Tra cứu liên quan
- Làng nghề và kỹ nghệ: nghề dâu tằm xứ Quảng, đồ tre đan xứ Quảng.
- Địa điểm nghề truyền thống: làng gốm Thanh Hà, làng mộc Kim Bồng, phố cổ Hội An.
- Sông ngòi và ẩm thực: sông Thu Bồn, mì Quảng, cao lầu.
Điều còn chưa rõ
- Tỷ lệ và số lượng thợ nữ giữ vai trò thợ cả trong các làng nghề qua từng thế kỷ chưa có số liệu kiểm kê cụ thể trong tài liệu lưu trữ [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Niên đại chính xác của các câu ca dao ghi nhận về nghề dệt lụa và bán mắm ven sông Thu Bồn [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Quảng Nam, “Tiếng đồn gái Quảng có tài…”, 29/10/2024, https://baodanang.vn/tieng-don-gai-quang-co-tai-3143454.html, truy cập 24/10/2026.