Ẩm thực

Cá niên sông Tranh ở vùng núi Trà My

Vịnh biển và thành phố Đà Nẵng nhìn từ núi Sơn Trà
Vịnh biển và thành phố Đà Nẵng nhìn từ núi Sơn Trà. Ảnh minh hoạ: Christophe95, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons.

Khi nướng cá niên trên bếp than, người dân vùng núi Trường Sơn không mổ bụng hay bóc mang mà xâu nguyên con vào que tre, cắm chúc đầu xuống để mỡ từ đuôi chảy dọc thân cá [2]. Loài cá suối ăn rêu đá trên dòng sông Tranh và các suối đầu nguồn vùng Trà My này có thịt ngọt nhưng bộ ruột lại mang vị đắng thanh [1][2].

Hình dáng và tập tính ở suối đầu nguồn

Theo bài viết năm 2018 trên Báo Đà Nẵng, cá niên thuộc họ cá chép, có hình dáng trung gian giữa cá chép và cá mòi [3]. Bài báo năm 2015 của Báo Thanh Niên thì mô tả cá niên nhìn thoáng qua giống cá diếc nhưng thân dài hơn [2]. Cá có nhiều vảy màu trắng vàng óng ánh bạc, thịt màu trắng vàng, hơi nhiều xương hom nhưng thơm và béo [3]. Kích cỡ trung bình của cá niên chỉ nhỉnh hơn ngón tay cái người lớn; tại một số vùng thuộc các huyện Nam Trà My, Bắc Trà My, Phước Sơn cũ và xã Tam Trà cũ (trước 7/2025 thuộc huyện Núi Thành, nay thuộc xã Tam Mỹ), người dân đôi khi bắt được những con to bằng 2 – 3 ngón tay người lớn [3].

Cá niên sống theo bầy đàn, tập trung ở những vùng nước sâu dọc sông suối đầu nguồn, các ghềnh đá và chân thác có bọt nước tung trắng xóa [3]. Loài cá này phân bố tại các tỉnh miền Trung như Thừa Thiên Huế, Quảng Nam cũ (nay thuộc Đà Nẵng), Quảng Ngãi và Bình Định [3]. Thức ăn chính của chúng là rong rêu và con hà đá ở vùng suối nước trong [2][3]. Vì không ăn các loài cá khác, cá niên được người dân gọi là loài cá “thanh sạch” [2].

Món đãi khách của người vùng cao

Ở vùng núi Bắc Trà My và Nam Trà My cũ (nay là các xã vùng Trà My như xã Trà My, xã Nam Trà My, xã Trà Đốc), đồng bào người Ca Dong, người Co và người Cơ Tu xem cá niên bắt từ sông Tranh và các suối rừng sâu là món ăn dùng để đãi khách quý [1][2]. Tại Ngày hội văn hóa – thể thao và du lịch các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam lần thứ 20 tổ chức ở Phước Sơn năm 2023, cá niên nướng nguyên con cùng rượu cần được người Co ở Bắc Trà My cũ mang đến giới thiệu trong không gian ẩm thực truyền thống [1].

Cá niên có thể chế biến thành nhiều món như hấp, kho, làm gỏi, nhưng phổ biến nhất là nướng [2]. Cá tươi bắt về chỉ rửa qua nước, giữ nguyên mang và bộ ruột, không tẩm ướp gia vị rồi xâu vào thanh tre vót nhọn [2]. Người nướng đặt con cá chúc đầu xuống phía bếp than hồng; khi than nóng, lớp mỡ trong mình cá rỏ ra, chảy từ đuôi xuống đầu làm thân cá bóng lên [2]. Khi lớp da bên ngoài vàng sạm và giòn rộp là cá vừa chín tới [2].

Người ăn dùng tay xé thịt cá còn nóng, chấm muối ớt và ăn kèm hạt tiêu rừng [2], hoặc dùng kèm các loại rau rừng như rau dớn, rau rắp, rau tàu bay, lộc vừng [3]. Thịt cá ngọt, vùng gần bụng béo, còn bộ ruột có vị đắng nhẹ [1][2]. Với người dân miền núi xứ Quảng, vị đắng và vị ngọt hòa vào nhau làm nên hương vị riêng của cá niên [2]. Phần ruột đắng này còn được người dân đem hấp cách thủy với trứng gà, rắc thêm tiêu rừng [2]. Khi đánh bắt được nhiều, người dân đem cá hong trên giàn bếp làm cá niên khô để dành; đến mùa mưa đem kho với nghệ và ớt rừng [2].

Suy giảm ngoài tự nhiên và thử nghiệm nhân giống (2015 – 2018)

Theo người dân địa phương, cá niên trước đây có nhiều ở sông suối, nhưng từ khi trở thành món ăn trong các nhà hàng thì ngày càng hiếm [2]. Bài báo năm 2018 trên Báo Đà Nẵng cho biết cá niên nằm trong Sách đỏ thế giới ở nhóm NT (gần bị đe dọa) do số lượng suy giảm mạnh [3].

Trong giai đoạn 2015 – 2018, ThS. Nguyễn Công Dưỡng (Trung tâm Chọn giống cá rô phi, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I) cùng cộng sự thực hiện đề tài “Thử nghiệm sinh sản nhân tạo và nuôi thương phẩm cá niên” tại các huyện Nam Trà My, Bắc Trà My, Phước Sơn và Núi Thành cũ [3]. Qua khảo sát, nhóm nghiên cứu ghi nhận tại nhiều nơi ở các huyện này, cá niên gần như không còn xuất hiện từ sau khi xây dựng đập thủy điện Sông Tranh 2; riêng xã Tam Trà cũ có mật độ sông suối dày và nước chảy mạnh nên còn nhiều cá [3]. Theo ThS. Nguyễn Công Dưỡng, việc đánh bắt bằng kích điện, thuốc nổ cùng sự hình thành các hồ thủy điện đã làm mất môi trường nước chảy tự nhiên, giảm nguồn thức ăn và phá hủy bãi đẻ của cá [3].

Trong 3 năm (2015 – 2018), nhóm nghiên cứu cùng người dân thu gom 1.500 con cá bố mẹ ngoài tự nhiên (180 con thử nghiệm liều lượng kích dục tố, 1.320 con thử nghiệm sinh sản, số còn lại nuôi tái thành thục) để cho đẻ trong bể xi măng, đồng thời thu gom 3.200 con cá giống cỡ trên 7 g/con để thử nghiệm nuôi thương phẩm [3]. Kết quả công bố năm 2018 cho thấy tỷ lệ trứng nở ở phương pháp đẻ vuốt nhân tạo đạt hơn 25%, ở phương pháp đẻ tự nhiên đạt hơn 28%; tỷ lệ sống từ cá bột lên cá hương lần lượt đạt 78,08% và 53,33%, từ cá hương lên cá giống đạt 53,19% [3]. Sau 15 tháng nuôi thương phẩm, đàn cá giống tự nhiên đạt mức tăng trưởng 56,06 g/con (tỷ lệ sống 76,46%), còn đàn cá giống nhân tạo đạt 60,05 g/con (tỷ lệ sống 61,25%) [3].

Thời điểm nghiệm thu năm 2018, đại diện Sở Khoa học và Công nghệ, Chi cục Thủy sản Quảng Nam cũ và Hội Nông dân huyện Núi Thành cũ đều đánh giá cá niên nhạy cảm với môi trường, thời gian nuôi dài, tỷ lệ hao hụt cao nên nuôi thương phẩm chưa mang lại hiệu quả kinh tế, cần thêm các nghiên cứu chuyên sâu để bảo tồn nguồn gen [3].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Tên khoa học (danh pháp hai phần) của loài cá niên ở sông Tranh chưa được nêu trong các nguồn đã đọc [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Kết quả các chương trình bảo tồn hoặc nuôi thử nghiệm cá niên tại vùng núi Đà Nẵng mới sau năm 2018 chưa có số liệu cập nhật [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Đăng Mỹ Giang, “Độc đáo ẩm thực vùng cao”, Báo Đà Nẵng, 27/8/2023, https://baodanang.vn/doc-dao-am-thuc-vung-cao-3026514.html, truy cập 23/10/2026.
  2. An Quân, “Ngọt đắng cá niên giữa rừng Trường Sơn”, Báo Thanh Niên, 21/10/2015, https://thanhnien.vn/ngot-dang-ca-nien-giua-rung-truong-son-185511002.htm, truy cập 23/10/2026.
  3. Bích Liên – Hoàng Liên, “Tạo giống và nuôi thương phẩm cá niên”, Báo Đà Nẵng, 2/10/2018, https://baodanang.vn/tao-giong-va-nuoi-thuong-pham-ca-nien-3087821.html, truy cập 23/10/2026.