Dân gian quanh vùng thường dùng các tên gọi quen thuộc như cửa Hàn, chợ Hàn, sông Hàn hay cách nói đi “xuống Hàn” [1]. Nhiều người thường nghĩ chữ “Hàn” có nghĩa là lạnh theo từ Hán Việt 寒, nhưng thư tịch và bản đồ cổ ghi nhận từ này theo những cách viết khác [1]. Theo một bài viết trên Báo Đà Nẵng dịp Xuân 2024, đây là hiện tượng mượn chữ Hán để ghi lại một từ địa phương đã xuất hiện cách đây hơn năm trăm năm [1].
Chữ “Hàn” trên bản đồ cổ và thư tịch
Bài viết cho biết chữ “Hàn” tại đây không có nghĩa là “lạnh” của từ Hán Việt thường gặp 寒 [1]. Trong Hồng Đức Bản Đồ được xác định niên đại vào cuối thế kỷ 15, địa danh cửa Hàn được ghi là “Hàn Môn” với tự dạng 翰門 [1]. Đến giữa thế kỷ 17, bản đồ Giáp Ngọ Bình Nam Đồ ghi nhận tên chợ Hàn là “Hàn Thị” với tự dạng 榦巿 [1]. Tác giả lý giải đây là việc mượn chữ Hán để ghi âm một từ địa phương không có từ tương đương trong tiếng Hán, và âm “Hàn” này xuất hiện ít nhất đã hơn năm trăm năm trước [1]. Xem thêm tổng thể tại bài Quảng Nam trên bản đồ cổ.
Vào giữa thế kỷ 17, bản đồ của Alexandre de Rhodes ghi địa danh này bằng chữ Latinh là “Cuahan” [1]. Trong tác phẩm Voyages et Missions soạn cùng thời gian đó, Alexandre de Rhodes cũng sử dụng từ “Kean” để chỉ cửa Hàn qua cụm từ “port de Kean” [1].
Từ khoảng thế kỷ 19 về sau, người Trung Hoa khi đến cửa Hàn đã nghe phát âm của người địa phương rồi tìm những chữ Hán có phát âm tương tự và có nghĩa liên quan để gọi cảng biển này [1]. Những chữ được chọn gồm 峴 (nghĩa là vách núi) hoặc 蜆 (nghĩa là con hến); người Hoa đọc là Xiàn, Hành hoặc Hàn, còn người Việt đọc âm Hán Việt là Hiện [1]. Từ đó, Đà Nẵng được ghi trong tiếng Trung hiện đại là 峴港 hoặc 蜆港 (Hiện Cảng) [1]. Tên gọi Hiện Cảng vừa làm nhiệm vụ ghi âm, vừa gợi hình ảnh cửa biển được vách núi Sơn Chà che chắn và từ xa trông như một vỏ hến nổi trên mặt biển [1].
Mối liên hệ đường thủy với Hội An và sông Vĩnh Điện
Cửa Hàn đóng vai trò một cảng biển quan trọng nhờ vị trí kết nối với cửa Đại ở biển Hội An qua sông Hàn và sông Cổ Cò dẫn thẳng tới gần Hội An, khu phố thương mại sầm uất từ cuối thế kỷ 17 [1]. Cửa Đại trước đây thường bị cát bồi cạn, nên tàu thuyền vào cửa Hàn vốn có lòng nước sâu rồi tiếp tục theo đường sông vào Hội An thuận lợi [1]. Một bản đồ vẽ năm 1787 trong tập Iconographie historique de l’Indochine Française ghi nhận cửa Hàn và cửa Đại như hai nhánh của một cửa biển chung, kèm chú thích rằng sông Hội An bị bãi bồi nông ngăn cản chỉ thuyền nhỏ vào được, trong khi vịnh Tourane có cảng chắc chắn và tiếp nhận được tàu buôn lớn [1].
Ở giai đoạn xa hơn, tàu thuyền vào cửa Hàn có thể theo một nhánh sông nối liền sông Hàn với sông Thu Bồn để chuyển hàng hóa lên thượng nguồn [1]. Dòng chảy này từng bị bồi lấp; đến năm Minh Mạng thứ 3 (1822), triều đình cho khơi thông lại theo dấu vết cũ qua làng Câu Nhí, đặt tên là sông Vĩnh Điện và cho khắc tên cùng hình tượng sông vào Dụ Đỉnh ở Đại Nội kinh đô Huế [1]. Sách Đại Nam nhất thống chí in năm Duy Tân thứ 3 (1909) chép rằng năm Minh Mạng thứ 3 đã sai Cai bạ Lê Đại Cương tổ chức đào theo dấu cũ từ xã Câu Nhí đến xã Cẩm Sa hơn 850 trượng [1]. Về sau, đoạn sông Câu Nhí tiếp tục được khai thông vào thời Pháp thuộc để vận chuyển vàng từ mỏ vàng Bồng Miêu và than từ mỏ than Nông Sơn ra thẳng cửa Hàn, được thể hiện trên bản đồ năm 1891 của M.A. Hérou [1].
Dấu tích Champa và giả thuyết nguồn gốc từ nguyên
Dấu vết hoạt động thương mại tại vùng cửa sông Hàn đã xuất hiện từ thời Champa [1]. Hai bản văn khắc niên đại thế kỷ 10 tìm thấy tại Hóa Quê (trước 7/2025: phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ), nay thuộc phường Cẩm Lệ (xem bài bia Hóa Quê và bia Khuê Trung) nhắc đến việc giao dịch với nước ngoài và việc xây dựng đền tháp ở bến sông Hóa Quê [1]. Hai hiện vật này gồm văn khắc C 142 lưu giữ ở Bảo tàng Lịch sử quốc gia tại Hà Nội và văn khắc C 211 tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm ở Đà Nẵng [1].
Về nguồn gốc từ nguyên của âm “Hàn”, tác giả bài viết đưa ra giả thuyết liên hệ với hệ ngôn ngữ Mã Lai – Đa Đảo (Malay-Polynesian) [1]. Dấu vết này được tác giả đối chiếu với từ “hang krong” nghĩa là bờ sông trong tiếng Chăm hiện đại (theo Tự điển Việt – Chăm năm 1996 của Bùi Khánh Thế), hoặc từ “labuhan” nghĩa là bến cảng, nơi neo đậu tàu thuyền trong tiếng Mã Lai (theo từ điển năm 1852 của John Crawfurd) [1]. Tác giả nhận định qua thời gian, từ một tên gọi bến cảng ban đầu, “Hàn” đã trở thành tên chung cho cả dòng sông và khu chợ ven sông [1].
Tra cứu liên quan
- Địa danh lân cận: sông Hàn, cửa Hàn, chợ Hàn, sông Cổ Cò, sông Vĩnh Điện
- Di tích và cổ thư: Quảng Nam trên bản đồ cổ, bia Hóa Quê và bia Khuê Trung, Bảo tàng Điêu khắc Chăm
- Khai khoáng và làng cổ: làng Câu Nhí, mỏ than Nông Sơn, mỏ vàng Bồng Miêu
Điều còn chưa rõ
- Nguồn gốc từ nguyên của âm “Hàn” từ hệ ngôn ngữ Mã Lai – Đa Đảo hiện chỉ là giả thuyết do tác giả bài báo nêu, chưa có kết luận ngôn ngữ học khẳng định [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Vị trí cụ thể của các đền tháp Chăm thế kỷ 10 được nhắc đến trên bia Hóa Quê bên bến sông hiện không còn dấu vết kiến trúc trên mặt đất [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Đà Nẵng, “Từ cửa Hàn đến sông Hàn”, 12/02/2024, https://baodanang.vn/tu-cua-han-den-song-han-3236614.html, truy cập 24/10/2026.